Soạn văn Kiều ở Lầu Ngưng Bích

Soạn văn Kiều ở Lầu Ngưng Bích

I. Kiến thức cơ bản cần nắm vững

Đoạn trích nằm ở phần thứ hai trong truyện Kiều (gia biến và lưu lạc). Gia đình  Kiều gặp cơn nguy biến. Do thằng bán tơ vu oan cha và em Kiều bị bắ giam. Để chuộc cha, Kiều quyết định bán mình. Tưởng gặp được nhà tử tế ai dè lại bị bắt vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự tử. Tú Bà chủ lầu xanh vờ hứa hẹn cho nàng, đem nàng ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích sau đó mụ sẽ nghĩ cách để bắt nàng phải tiếp khách làng chơi.

Soạn văn Kiểu ở lầu Ngưng Bích
Soạn văn Kiểu ở lầu Ngưng Bích

Đoạn trích gồm hai mươi ba câu. Sau câu thơ đầu thể hiện hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Thúy Kiều, tám câu thơ tiếp theo thể hiện nỗi thương nhớ của nàng về Kim Trọng và về cha mẹ, tám câu thơ còn lại thể hiện tâm trạng đau buồn, âu lo của Thúy Kiều.

II. Hướng dẫn đọc hiểu văn bản

  1. Trong 6 câu thơ đầu khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với không gian và thời gian được nhìn qua con mắt của nhân vật, bộc lộ hoàn cảnh tâm trạng cô đơn, tội nghiệp của Thúy Kiều.
  • Kiều bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích: Khóa xuân
  • Vẻ mênh mông chống chếnh của không gian tô đậm tình cảnh cô đơn trơ trọi của Kiều, non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát, xa trông, non, xa, trăng gần.. Đúng là Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
  • Hình ảnh trăng, mây sớm đèn khuya, biểu đạt sự quay vòng của của thời gian. Cùng với những hình ảnh gợi tả không gian, tuần hoàn đều đặn của thời gian càng tô đậm thêm tình cảnh cô đơn, buồn bã của Kiều.
  1. Nỗi nhớ thương của Kiều được diễn tả sâu sắc trong tám câu thơ tiếp theo
  • Kiều nhớ đến Kim Trọng, tưởng tượng ra cảnh chàng Kim cũng đang nhớ về mình, mong ngóng mà vẫn bặt tin (tưởng người dưới nguyệt chén đồng – Tin sương luống những rày trông mai chờ), tâm trạng Kiều đau đớn xót xa tủi phận ( Ben trời góc bể bơ vơ – Tấm son góc bể bao giờ bơ vơ)
  • Kiều đang nhớ đến cha mẹ thương cha mẹ ngày đêm tựa cửa trông mong, ngón tin con, ngậm ngùi vì tuổi già trước sự khắc nghiệt của thời gian (Sân Lai cách mấy nắng mưa – Có khi gốc tử đã vừa người ôm), day dứt vì mình không được ở bên để báo đáp cong ơn sinh thành (Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ)

Nguyễn Du để Kiểu nhớ đến Kim Trọng trước là hoàn toàn phù hợp với diễn biến tâm lý của nhân vật trong cảnh ngộ cụ  thể, đảm bảo chính chân thực cho hình tượng. Trong tình cảnh bị Mã Giãm Sinh làm nhục, lại ép tiếp khách làng chơi nên hiện trạng tâm lý Kiều là nỗi đau đớn về “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” là nỗi buồn nhớ người yêu, tiếc nuối mối tình đầu đẹp đẽ. Kiều đã hi sinh thân mình vì đạo hiếu, khi lâm vào tình cảnh đáng thương nàng lại một lòng nhớ đến Kim Trọng, nhớ thương cha mẹ quên cả cảnh ngộ của mình. Trong đoạn này, Kiều hiện ra tấm lòng thủy chung hiểu thảo cao đẹp.

  1. Ở tám câu thơ cuối đoạn trích, Nguyễn Du đã cho thấy bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật cảnh vật thể hiện tâm trạng

           Sắc thái bước tranh thiên  nhiên thể hiện từng trạng thái tình cảm của Thúy Kiều:

+ Nhớ thương cha mẹ, quê hương, cảnh vật là:

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa

+ Nhớ người yêu, xót xa cho tình duyên lỡ dở thì cảnh là:

Hoa trôi man mác biết là về đâu.

+ Buồn tủi, đau đớn cho cho thân mình thì tình cảnh là:

Buồn trông gia cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Như vậy từng chi tiết hình ảnh khing cảnh thiên nhiên đều mang đậm trạng thái tình cảm của Thúy Kiều. Mỗi cảnh mỗi tình, song tất cả đều buồn thương đúng là người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

  • Cụm từ buồn trông lặp lại 4 lần trong tám câu thơ, như những đợt sóng lòn trùng điệp càng khiến nỗi buồn dằng dặc, mênh mông kết hợp vố cáo nhìn từ xa đến gần thu hẹp dần vào nội cảm của con người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cô đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên. Sóng gió nổi lên như dự báo về những đau khổ ê chề rồi đây sẽ xảy ra đối với Kiều là dự cảm cho một đoạn đời “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.

III. Tham khảo

  1. Trong đoạn thơ, dường như mỗi hướng trông tọa độ của Thúy Kiều đều ứng với một sự vật và một biểu tượng nỗi niềm, trông cửa bể - cánh buồm xa khuất, trông ngọn nước – hoa trôi vô định, trông nội cỏ rối bời một màu mờ mịt trông gió cuốn, sóng gào thét bất ổn. Từ xa đến gần, từ ban sơ đến giữ dội – nỗi buồn thôi thúc, uy hiếp xô đẩy và xé tan tâm can. Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn du đều phản ánh một sắc độ khác nhau trong nỗi buồn đau đớn của Thúy Kiều. Tầm nhìn càng thu hẹp lại nỗi buồn càng nung nấu nhức nhối, hành hạ càng trào dâng cảm giác lẻ loi bế tắc ê chề

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã diễn tả tâm trạng đau đớn ê chề của Kiều trong khi bị Tú Bà giam lỏng. Nỗi cô đơn nhớ nhà, nhớ người yêu đã giày vò tâm trạng của Kiểu.